Vốn đầu tư nước ngoài:

(TBTCVN) – Việc không hạn chế tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đầu tư vào lĩnh vực trung gian thanh toán sẽ tạo động lực để thu hút vốn ngoại cho lĩnh vực này, góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.

tt
Dư địa cho dịch vụ TGTT tại Việt Nam còn rất lớn.

Đây là chia sẻ của ông Đặng Thanh Sơn – Luật sư hợp danh Công ty Luật TNHH Baker McKenzie (Việt Nam), với phóng viên TBTCVN.

* PV: Thưa ông, quy định tỷ lệ giới hạn vốn ĐTNN là 49% đối với hoạt động  trung gian thanh toán (TGTT) đã từng được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa vào dự thảo nghị định thanh toán không dùng tiền mặt thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP (dự thảo nghị định). Tuy nhiên, mới đây nhất, NHNN đã quyết định không đưa quy định này vào dự thảo nghị định. Việc không hạn chế vốn ĐTNN trong lĩnh vực TGTT sẽ có ý nghĩa như thế nào?

– Ông Đặng Thanh Sơn: Tôi cho rằng, việc bỏ giới hạn 49% như dự thảo nghị định lần này là cần thiết. Bởi, nó sẽ tạo động lực để thu hút thêm các nhà ĐTNN có tiềm lực tài chính, tiềm lực công nghệ đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực TGTT. 

Khi nhà ĐTNN tham gia vào lĩnh vực này, chúng ta sẽ có cơ hội để tiếp thu các công nghệ, giải pháp kỹ thuật, cũng như các kỹ năng quản trị để xây dựng các sản phẩm phù hợp với thị trường Việt Nam và tạo thêm trải nghiệm cho khách hàng. Đồng thời, đây cũng là tiền đề để thúc đẩy cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân ở các vùng, miền mà điều kiện đi lại giữa điểm dân cư đến các ngân hàng (NH) còn xa, ví dụ như khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, hoặc vùng nông thôn miền Tây Nam Bộ. 

 son
Ông Đặng Thanh Sơn

Tôi được biết, hiện nay đã có một số công ty cung cấp dịch vụ TGTT, trong đó sở hữu nhà ĐTNN chiếm trên 49%, đang hoạt động khá hiệu quả. Do vậy, không hạn chế tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) tập trung đẩy mạnh phát triển kinh doanh và quan trọng hơn, khẳng định Việt Nam luôn “mở rộng cửa” chào đón các nhà đầu tư quốc tế tiến hành đầu tư vào nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech).

Thực ra, hiện nay có rất ít quốc gia trên thế giới đưa ra giới hạn tỷ lệ ĐTNN trong lĩnh vực TGTT. Hơn nữa, trong các hiệp định, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WTO, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, Hiệp định thương mại tự do EU – Việt Nam, thì chúng ta đều cam kết mở cửa thị trường, cho phép 100% sở hữu nước ngoài đối với dịch vụ TGTT, kể cả các dịch vụ liên quan đến hạ tầng thanh toán như dịch vụ chuyển mạch tài chính, dịch vụ bù trừ điện tử và cổng thanh toán điện tử. Như vậy, việc không giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN trong lĩnh vực TGTT cũng là để thực hiện các cam kết trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết. 

* PV: Một số ý kiến cho rằng, trong dài hạn việc mở rộng cửa tiếp nhận nguồn vốn ĐTNN có thể khiến DN Việt mất quyền chủ động trong vận hành, điều hành DN. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

– Ông Đặng Thanh Sơn: Tôi cho rằng lập luận này chưa thấu đáo. Hiện nay, trong số hơn 30 giấy phép về TGTT đã được NHNN cấp cho các DN, thì hầu như không có bất kỳ một DN có vốn ĐTNN nào đã được cấp phép mà không triển khai dịch vụ. Trong khi đó vẫn có một số DN sở hữu 100% của nhà đầu tư trong nước có giấy phép nhưng chưa hoạt động. Như vậy, câu chuyện “chủ động” ở đây nằm ở kỹ năng quản trị, khả năng huy động nguồn lực tài chính, nhân sự, giải pháp kỹ thuật và phương án kinh doanh, hơn là sự chủ động được tạo nên từ sở hữu đa số trong DN. Bản chất sở hữu đa số không tự tạo nên sự chủ động, mà chính sáng tạo trong bài toán kinh doanh và huy động nguồn lực con người, nguồn lực công nghệ tạo nên sự chủ động. 

Nhìn lại sự phát triển và hội nhập của ngành NH sẽ thấy rõ hơn về luận điểm này. Chúng ta mở cửa để các tổ chức tín dụng nước ngoài được thành lập NH 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Hiện nay, lĩnh vực NH vẫn cạnh tranh và phát triển tốt. Các NH như BIDV, Vietcombank, Vietinbank vẫn hoạt động rất hiệu quả, song hành với sự phát triển của ANZ, CitiBank, HSBC, Standard Chartered Bank… Thậm chí, nhiều chức danh quản lý, kể cả một số CEO tại các NH liên doanh, NH 100% vốn nước ngoài lại đang do người Việt đảm nhận. 

Vì vậy, tôi cho rằng, hội nhập mang lại cho chúng ta cơ hội. Tất nhiên, cơ hội nào cũng kèm theo khó khăn, thách thức. Tìm ra cơ hội trong khó khăn, trong thách thức mới là điều đáng tự hào và đáng nói. Chấp nhận cạnh tranh, trong trường hợp này, là tiền đề cho phát triển.

* PV: Bên cạnh việc mở cửa cho nhà ĐTNN tham gia vào lĩnh vực TGTT, để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ TGTT ở Việt Nam trong thời gian tới, theo ông, cần làm gì?

– Ông Đặng Thanh Sơn: Tôi được biết, chừng hơn 1 năm trước, một thống kê của Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng, Việt Nam là quốc gia có lượng giao dịch phi tiền mặt thấp nhất trong khu vực với tỷ lệ 4,9%, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 26,1%, còn Thái Lan là 59,7%. Điều đó có nghĩa rằng, tỷ lệ giao dịch bằng tiền mặt của chúng ta còn hơn 90%. Trong khi đó, thời điểm này chúng ta có tới khoảng 97 triệu dân, hơn 130 triệu thuê bao điện thoại, hơn 60 triệu thuê bao internet… Những con số trên cho thấy dư địa cho dịch vụ TGTT tại Việt Nam còn rất lớn. 

Bên cạnh đó, hạ tầng thanh toán hiện đang chủ yếu “phủ sóng” ở các đô thị, thay vì vươn tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Về quy mô, tại thời điểm này Việt Nam có khoảng hơn 40 NH đang cung cấp các dịch vụ thanh toán di động, hơn 80 công ty fintech được cấp giấy phép hoạt động, 32 công ty đã được cấp giấy phép dịch vụ TGTT (trong đó có khoảng 26 công ty đã triển khai cung cấp dịch vụ). Đây là quy mô còn khá khiêm tốn so với tiềm năng phát triển của thị trường.

Vì vậy, để thúc đẩy phát triển dịch vụ TGTT trong thời gian tới, tôi cho rằng cần quan tâm đến 3 vấn đề chính như sau:

Thứ nhất, NHNN cần chủ động xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp lý để hạn chế các thủ tục hành chính rườm rà trong quá trình cấp phép dịch vụ TGTT. Thời hạn của giấy phép cung cấp dịch vụ TGTT cần được mở rộng hơn thay vì 10 năm như hiện tại, để tương thích với thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Bên cạnh đó, NHNN cần quản lý linh động và cập nhật xu thế phát triển của công nghệ tài chính thế giới trong các chính sách của mình.

Thứ hai, cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa các NH và DN cung cấp dịch vụ TGTT để hạn chế tối đa việc sử dụng tiền mặt thanh toán các dịch vụ hàng ngày như tiền khám chữa bệnh, học phí, tiền điện, nước… Từ đó, từng bước thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân. 

Thứ ba, các DN tham gia vào lĩnh vực TGTT cần cải thiện hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ tiên tiến để tăng khả năng kết nối, tính an toàn và bảo mật trong lĩnh vực TGTT, tăng khả năng trải nghiệm dịch vụ cho khách hàng. Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, các DN cũng cần có thêm nhiều sản phẩm, giải pháp thanh toán phù hợp cho thị trường được “địa phương hóa” cho từng vùng và “cá thể hóa” cho từng nhóm tuổi, để đảm bảo những người dân vùng sâu, vùng xa dễ dàng tiếp cận với dịch vụ TGTT, làm cho dịch vụ TGTT không chỉ hướng đến những người trẻ, mà còn là dịch vụ cho cả những người cao tuổi. 

 * PV: Xin cảm ơn ông!   

Cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa các NH và DN cung cấp dịch vụ TGTT để hạn chế tối đa việc sử dụng tiền mặt thanh toán các dịch vụ hàng ngày như tiền khám chữa bệnh, học phí, tiền điện, nước… Từ đó, từng bước thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân. 

Diệu Thiện (thực hiện)

Theo http://thoibaotaichinhvietnam.vn