Chính sách chi trả BHYT ứng phó với già hóa dân số

(TBTCO) – Tại Việt Nam, tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, đòi hỏi việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội, trong đó có chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thông qua BHYT phải được thiết kế để ứng phó tốt với việc già hóa dân số.

ht
Hội thảo được đồng tổ chức bởi BHXH Việt Nam, Bộ Y tế và JICA. Ảnh: LV

Ngày 12/3 tại Hà Nội, Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam, Bộ Y tế và Cơ quan Phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tổ chức hội thảo Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) trong mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và ứng phó với già hóa dân số.

Người cao tuổi chiếm 11% người tham gia BHYT

Phát biểu tại hội thảo, Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Lương Sơn cho biết, hiện nay, Việt Nam đã đạt được mục tiêu bao phủ BHYT rất tốt. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt trên 90% dân số và thực tế đến năm 2018, Việt Nam đã đạt tỷ lệ bao phủ gần 88%, với 83 triệu người tham gia. Đây là một con số rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên, ông Sơn cũng chỉ ra rằng, giống như các nước khác, Việt Nam cũng không tránh khỏi xu thế già hóa dân số. Thống kê của BHXH Việt Nam cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam hiện là 76,6 tuổi, cao hơn mức trung bình của thế giới (72 tuổi). Việt Nam đang ở độ tuổi trung bình của giai đoạn dân số vàng và đang đứng trước thách thức về mặt già hóa dân số.

Theo nghiên cứu “Triển vọng dân số thế giới” của Liên Hợp quốc, tốc độ già hóa dân số của Việt Nam diễn ra nhanh hơn nhiều so với các nước: năm 2015, số người ở độ tuổi 65 trở lên mới chiếm 6,7% dân số, nhưng con số này đến năm 2040 được dự báo là sẽ chiếm 17% dân số và đến năm 2060 là 26,2% dân số.

Thông tin rõ hơn về điều này, ông Sơn cho biết, năm 2016, cơ quan BHXH đã cấp thẻ BHYT cho 8,8 triệu người cao tuổi; năm 2017 là 9,8 triệu người và năm 2018 là trên 11 triệu người. Tuy nhiên, con số này chưa bao gồm thân nhân của quân đội, công an tham gia BHYT theo chế độ đặc thù do Nhà nước ban hành. Theo ông Sơn, tỷ lệ người cao tuổi trên tổng số người  tham gia BHYT chiếm khoảng 11% và tỷ lệ này đang tăng dần qua các năm.

Ông Sơn cũng nhấn mạnh, bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và thực hiện BHYT toàn dân là một trong những sự quan tâm hàng đầu của Chính phủ trong mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, công bằng, hiệu quả.

Để đạt được mục tiêu đó, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số, cần phải có các giải pháp đồng bộ như: tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT, thiết kế gói quyền lợi BHYT, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe phù hợp với khả năng chi trả của Quỹ BHYT, tăng cường chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, thực hiện đổi mới phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT…

Cũng theo Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam, tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam, đòi hỏi việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội, trong đó chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thông qua BHYT phải được thiết kế làm sao ứng phó tốt với việc già hóa dân số. Đây cũng là một trong những chính sách đang được Chính phủ quan tâm trong giai đoạn hiện nay.

Có chiến lược cải thiện hệ thống BHYT

Được sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản, JICA, BHXH Việt Nam và Bộ Y tế đã phối hợp thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng và tăng cường quản lý phương thức chi trả của gói dịch vụ y tế cơ bản do Quỹ BHYT chi trả tại Việt Nam (dự án SHIP). Mục tiêu của dự án là tăng cường phương thức chi trả và hoạt động của gói dịch vụ do Quỹ BHYT chi trả; đồng thời, xây dựng kế hoạch chiến lược nhằm cải thiện hệ thống BHYT.

Ông Hironari Onishi - Trưởng nhóm dự án SHIP cho biết, do vấn đề già hóa dân số, chi phí y tế chắc chắn sẽ tăng. Vì vậy, một số chính sách cần phải được xem xét thực hiện, trong đó có vấn đề tăng phí BHYT. Tuy nhiên, tăng phí đồng nghĩa với việc khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ cần được cải thiện.

Theo đó, cần thiết phải tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế, đảm bảo đủ số lượng cơ sở y tế cũng như số lượng bác sĩ và những yếu tố có thể cải tiến chất lượng dịch vụ y tế. Giải pháp là tăng số lượng các cơ sở y tế tư nhân cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh BHYT công (tăng số lượng các cơ sở y tế đủ điều kiện được ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT).

Bên cạnh đó, cần tăng trợ cấp chính phủ cho hệ thống BHYT. Để thực hiện được điều này, cần phải có phân tích thống kê xác định giới hạn gánh nặng tài chính đối với ngân sách. Đồng thời, cân nhắc phương pháp xác định chi phí bệnh nhân tự trả bao gồm cả chi phí đối với người cao tuổi và cần xem xét cả trợ cấp hưu trí.

Bổ sung thêm giải pháp cho vấn đề trên, đại diện của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam cho rằng, cần xây dựng chiến lược tài chính y tế tiến tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân. Theo bà Nguyễn Kim Phượng, thành viên của dự án này, cần phải xây dựng gói dịch vụ y tế dựa trên bằng chứng về chi phí – hiệu quả.

Các dịch vụ được bao phủ cần toàn diện, bao gồm phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, điều trị, phục hồi, chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc cuối đời. Trong đó, ưu tiên các dịch vụ chi phí thấp nhưng hiệu quả cao và có thể được cung ứng ở tuyến cơ sở như dịch vụ liên quan đến phòng quản lý NCDs (các dịch vụ phòng chống bệnh không lây nhiễm) và chăm sóc lão khoa cơ bản, nhằm ứng phó với già hóa dân số.

Việc chi trả có thể áp dụng chi trả theo định suất cho dịch vụ ngoại trú và DRGs (phương pháp thanh toán cho bệnh viện theo nhóm chẩn đoán) cho dịch vụ nội trú. Bên cạnh đó, cần thiết kế phương thức chi trả tương thích với mô hình cung ứng dịch vụ, theo hướng liên tục và có điều phối tốt ở tuyến ban đầu.

Đồng thời, thiết kế các khuyến khích phù hợp nhằm tăng cung ứng các dịch vụ cho bệnh nhân NCDs và người cao tuổi ngay tại xã. Ví dụ như việc áp dụng cùng 1 phác đồ điều trị, chi trả cùng 1 giá cho những chẩn đoán như nhau, ở tất cả các tuyến…/.

Mai Lâm

Theo http://thoibaotaichinhvietnam.vn